Tóm tắt các nghiên cứu về Dây thìa canh đăng trên tạp chí Dược học (Phần 3)

Chủ Nhật 18/10/2015.

NGHIÊN CỨU IN VIVO VÀ IN VITRO VỀ CÁC HỢP CHẤT STEROL CỦA DÂY THÌA CANH (GYMNEA SYLVESTRTE R. Br.)

Vats S và cs.

Pak J Biol Sci, 2013 Dec 1,16(23):1771-5

Dây thìa canh (Gymnema sylvestre R. Br.) là cây thuốc được biết có tác dụng chữa bệnh tiểu đường hiệu quả. Trong nghiên cứu này, các hợp chất phytosterol từ dây thìa canh được nhận dạng và định lượng in vivo và in vitro. Sự hình thành mô sẹo tối đa đã được quan sát trong môi trường MS có bổ sung 0,5mg/L là 2,4-D. Hàm lượng protein cao có ý nghĩa ở bộ phận trên mặt đất và mô sẹo. Các hợp chất phytosterol đã được nhận dạng bằng các phương pháp phổ và phương pháp sắc ký. Beta-sitosterol, campestrerol, stigmasterol được nhận dạng cả in vivo và in vitro. Lanosterol chỉ có mặt ở mô sẹo. Đây là lần đầu tiên các phytosterol được công bố có mặt trong mô sẹo của dây thìa canh.

V.T.A

PHÂN LẬP MỘT NẤM SỐNG TRONG MÔ SẢN SINH RA GYMNEMAGENIN TỪ

DÂY THÌA CANH (GYMNEMA SYLVESTRE R.Br.)

Parthasarathy R và cs.

Appl Biochem Biotechnol, 2014 Mar,172(6):3141-52.

Dây thìa canh là cây thuốc có triterpenoid gymnemagenin được dùng trong ngành công nghiệp dược phẩm làm thuốc chữa bệnh tiểu đường. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định loài nấm sống trong mô dây thìa canh có sản sinh gymnemagenin hay không. Kết quả đã phân lập được một chủng nấm sống trong mô của lá của dây thìa canh, chủng nấm này sản sinh ra gymnemagenin trong môi trường nuôi cấy. Nấm đã được nhận dạng làPennicillium oxalicum dựa trên phương pháp hình thái học và phân tử. Chủng này có một hợp chất với giá trị TLC Rf và thời gian lưu trên HPLC giống hợp chất gymnemagenin chuẩn. Sự có mặt của gymnemagenin đã được khẳng định thêm bằng các phân tích FTIR, UV, và 1H-NMR.

V.T.A

KỸ THUẬT TRỒNG CÂY THUỐC DÂY THÌA CANH

[Gymnema sylvestre R. Br. (Gurmar)]

Ashok K. Pandey

Academic Journal of Plant Sciences 5 (3): 84-89, 2012

Dây thìa canh (Gymnema sylvestre R.Br.) là cây thuốc quan trọng mọc hoang dại ở các khu rừng nhiệt đới phía Trung, Tây, Nam Ấn Độ và ở các vùng nhiệt đới của châu Phi, châu Úc và Trung Quốc. Do nhu cầu ngày càng tăng, thu hoạch bừa bãi, nên cây thuốc này hiện đang bị đe dọa. Các thí nghiệm đồng ruộng đã được tiến hành từ năm 2004 đến năm 2007 nhằm nghiên cứu xây dựng kỹ thuật trồng loài cây này. Các thí nghiệm khác nhau đã được tiến hành nhằm đánh giá khả năng nảy mầm của hạt, kỹ thuật nhân giống vô tính và trồng loài cây này. Nghiên cứu cho thấy dây thìa canh có thể trồng thành công bằng hạt cũng như bằng biện pháp giâm cành ở khoảng cách 50x50cm. Việc xử lý trước hạt giống bằng nước lạnh trong 24h làm tăng khả năng nảy mầm của hạt. Cành giâm có đường kính từ 10-15mm và có 3 đốt là phù hợp nhất để làm nguyên liệu nhân giống vô tính. Thời gian nhân giống vô tính thích hợp nhất là vào tháng 3 và tháng 7. Kết quả các thí nghiệm xử lý hom giống bằng hormon sinh trưởng cho thấy nhúng cành giâm vào dung dịch IBA 5
00ppm trong 30 phút cho khả năng ra rễ cao nhất (52,50%). Sử dụng 4.000kg FYM/ha có tác động tốt đến sinh trưởng và năng suất dây thìa canh. Năng suất lá khô dây thìa canh đạt 1,5 tấn/ha. Dây thìa canh cho thu hoạch sau 2 năm trồng, mỗi năm có thể thu hoạch 2 đợt vào tháng 10 và tháng 6.

V.T.A

CÁC OLEAN DIMETHYL C-4 GEM CỦA DÂY THÌA CANH (GYMNEA SYLVESTRE)

VÀ TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA CHÚNG

Di Fabio G và cs.

Molecules, 2013 Dec 4,18(12):14892-919

Dây thìa canh (Gymnema sylvestre R. Br.), một trong những cây thuốc quan trọng thuộc họ Asclepiadaceae, là thảo dược được phân bố trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước nhiệt đới. Cây thuốc này được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh tiểu đường và làm thuốc lợi tiểu trong các thuốc độc quyền của Ấn Độ, có tác dụng tăng cường tiêu hóa, chống viêm, hạ đường huyết, diệt giun sán. Hơn nữa, dây thìa canh được cho là có lợi trong điều trị chứng khó tiêu, táo bón, vàng da, trĩ, bệnh tim, hen suyễn, viêm phế quản và lang ben. Các tài liệu cho thấy một số tác dụng dược lý đáng chú ý khác của cây này như chống béo phì, hạ lipid huyết, kháng khuẩn, loại bỏ gốc tự do, tác dụng chống viêm cũng đã được chứng minh. Bài báo này nhằm tóm tắt các báo cáo về hóa học và dược lý trên nhóm triterpenoid vòng năm cạnh dimethyl C-4 gem từ dây thìa canh.

V.T.A

PHÂN ĐOẠN GIÀU SAPONIN CỦA CAO CHIẾT NƯỚC DÂY THÌA CANH (GYMNEMA SYLVESTRE R. BR.) LÀM GIẢM CHỨNG BÉO PHÌ DO CHẾ ĐỘ ĂN GIÀU CHẤT BÉO

Reddy RM và cs.

Z Naturforsch C, 2012 Jan-Feb,67(1-2):39-46

Chúng tôi đã khảo sát tác dụng chống béo phì của phân đoạn giàu saponin của cao chiết nước lá dây thìa canh (SGE), dùng chuột cống trắng bị béo phì khi cho ăn chế độ ăn giàu chất béo trong 8 tuần. Cho nhóm điều trị uống SGE liều 100mg/kg thể trọng, ngày một lần. SGE đã làm giảm có ý nghĩa thể trọng, lượng thức ăn tiêu thụ, trọng lượng các cơ quan nội tạng và các mức triglycerid, cholesterol toàn phần, lipoprotein phân tử lượng thấp, lipoprotein phân tử rất thấp, chỉ số tạo xơ vữa mạch, glucose, và làm tăng các lipoprotein phân tử lượng cao. Không có sự khác nhau có ý nghĩa liên quan đến các thông số nghiên cứu trong trường hợp chuột cống trắng ăn theo chế độ bình thường (N) và chuột cống trắng ăn theo chế độ bình thường và uống SGE. Qua thử nghiệm in vitro, SGE đã ức chế tác dụng của enzym lipaza tụy. Nghiên cứu này cho thấy bằng chứng rõ ràng là SGE có tác dụng chống béo phì có ý nghĩa, có thể dùng trong YHCT và thay thế các thuốc tổng hợp.

V.T.A

  • VIDEO KIẾN THỨC VỀ BỆNH