Tập luyện thể dục ở người bệnh tiểu đường

Thứ Bảy 17/10/2015.

luyên tập
Theo các chuyên gia vận động thường xuyên giúp, giảm huyết áp, cải thiện chức năng tim mạch, giảm bệnh mạch vành, béo phì, giảm nguy cơ rối loạn đông máu, giảm cholesterol toàn phần và triglycerid, tăng HDL-c, cải thiện chứng đi cách hồi, cải thiện khả năng làm việc, sáng tạo, cải thiện chất lượng giấc ngủ, giảm stress, giảm đau và cứng khớp (thoái hóa khớp), phòng ngừa loãng xương, chậm xuất hiện sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer, cải thiện tình trạng đề kháng insulin, tăng tiêu thụ glucose, giảm sản xuất glucose từ gan, kiểm soát đường huyết tốt hơn. Chỉ cần giảm cân khoảng 7% là có thể cải thiện đáng kể tình trạng đề kháng insulin.

Vận động cơ thể rất quan trọng đối với sức khỏe. Điều này đã được minh chứng, những người có chỉ số BMI cao nhưng vẫn không bị đề kháng insulin hay không mắc bệnh tim mạch là do họ vận động, tập thể dục nhiều. Ngược lại những người có chỉ số BMI thấp nhưng vẫn bị tiểu đường hay tim mạch vì họ ít vận động và chỉ số mỡ trên khối lượng cơ thể cao. Trong trường hợp những người cùng cân nặng nhưng người hoạt động thể dục nhiều thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tiểu đường sẽ thấp hơn.

Cần chuẩn bị những gì trước khi tập?

Trước khi bắt đầu tập luyện cần lựa chọn loại vận động ưa thích. Nên thực hiện thành nhóm với bạn bè, người thân. Để tránh nhàm chán, nên thay đổi đa dạng hình thức vận động.

Cần khởi động chậm, khoảng 5 – 10 phút trước mỗi lần tập, tăng dần cường độ và thời gian tập.

Với những bệnh nhân không quen vận động, cần kiểm tra tim mạch, bệnh động mạch ngoại biên, chứng đau cách hồi, bệnh thần kinh ngoại biên và thần kinh tự chủ, khám chân (bao gồm vết loét và biến dạng), bệnh thận, huyết áp, bệnh võng mạc.

Kiểm tra đường huyết trước và sau khi vận động: nếu đường huyết trên 250mg/dL thì không nên tập; nếu đường huyết dưới 110 mg/dL thì ăn 15 g carbohydrat (các chất bột, đường). Nên mang sẵn bánh, kẹo, nước đường bên mình.

Lưu ý đặc biệt trong trường hợp xử trí hạ đường huyết khó khăn như lặn, nhảy dù, leo núi. Nguy cơ hạ đường huyết trong và sau tập luyện có thể xuất hiện sau 24 – 36 giờ.

Những vận động nào phù hợp với người bệnh tiểu đường?

Vận động thể lực là tất cả các hoạt động dùng đến sức cơ dẫn đến tiêu thụ năng lượng (đi chợ, leo cầu thang…) và những bài tập luyện.

Các loại tập luyện thể lực:

– Tập luyện dẻo dai: là các hoạt động sử dụng các nhóm cơ lớn và đòi hỏi cung cấp oxy liên tục cho cơ trong quá trình tập, gồm đi bộ nhanh, khiêu vũ, đi xe đạp, chạy bộ, chạy lúp xúp, đi cầu thang, bơi, tập dưới nước.

– Tập luyện đối kháng: sử dụng ít cơ và không đòi hỏi cung cấp oxy trong thời gian ngắn luyện tập. Các hoạt động “kéo, đẩy, nâng”, tăng sức mạnh của cơ, ngăn ngừa té ngã, tăng khả năng di chuyển, đi lại, cải thiện đường huyết.

Tập luyện bao lâu là đủ?

Khuyến cáo của IDF (Liên đoàn đái tháo đường thế giới), bệnh nhân ĐTĐ type 2 nên tập luyện tổng cộng 30 – 45 phút mỗi ngày, từ 3 – 5 ngày mỗi tuần hoặc 150 phút/tuần. Loại vận động dẻo dai như đi bộ, chạy, bơi, nhảy dây, đi xe đạp, nên đạt đủ cường độ nhằm làm tăng nhịp tim và tần số hô hấp. Khuyến khích tập luyện đối kháng 3 lần/tuần.

Vận động như thế nào khi đã xuất hiện các biến chứng?

– Biến chứng thần kinh ngoại biên và tự chủ: vận động nhẹ nhàng, không mang vác nặng, nên bơi lội, đạp xe, chèo thuyền, hoặc tập luyện những động tác ngồi tại chỗ, vận động tay. Tránh các vận động chạy trên thảm, tập kéo dài, chạy bộ, tập luyện chân.

– Bệnh thận: nên hoạt động từ nhẹ đến vừa, tránh hoạt động cường độ cao.

– Bệnh võng mạc: nên chơi các môn thể thao ít tác động lên tim mạch như: bơi lội, đi bộ, bài tập dẻo dai nhẹ, đạp xe tại chỗ, bài tập sức bền. Tránh các hoạt động cần sức mạnh như cử tạ, chạy bộ, quần vợt, tập luyện dẻo dai mạnh.

  • VIDEO KIẾN THỨC VỀ BỆNH