Giới thiệu tổng quan về Dây thìa canh

Thứ Bảy 09/04/2016.

tải xuống(1)

Tên khác: Lõa ti rừng, dây muôi

Tên khoa học: Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. Ex Schult

Họ: Thiên lý (Asclepiadaceae)

Mô tả:

Dây gần như leo. Thân hình trụ, lúc non có lông. Lá mọc đối, hình trái xoan hoặc thuôn, dài 2,8-4,5cm, rộng 1,2-2,4cm, gốc tròn, đầu có mũi nhọn ngắn, hai mặt lúc đầu hơi có lông, sau nhẵn, gân lá nổi rõ ở mặt dưới, cuống là dài 5-7mm, màu xám nhạt hoặc hơi tía, có lông.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim tán, hoa nhỏ màu vàng nhạt, đài và tràng có lông nhỏ, tràng phụ có 5 răng hình tam giác.

Quả gồm hai đại, mọc choãi, có khi một đại bị thui chột.

Bộ phận dùng:

Thân leo

Thành phần hóa học:

Lá chứa nonacosan, hentriacontan, pentatriacontan, α và β – chlorophyll, phytin, acid gymnemic, gymnestrogenin, gymnemagenin, gymnamin, condurital.

Acid gymnemic và gurmarin có tác dụng khử vị ngọt. Acid gymnemic và condurital đều có tác dụng hạ đường huyết.

Các saponin chính từ dây thìa canh gồm: gymnemosid a và b. Gymnemosid b và acid gymnemic V đều là các hoạt chất hạ đường huyết.

Tác dụng dược lý:

Hoạt tính hạ đường huyết:

Đã nhận xét thấy tác dụng chống tăng đường huyết của bột lá khô dây thìa canh trên thỏ gây đái tháo đường bằng tiêm alloxan cùng với sự giảm hoạt độ các enzym tân tạo đường và sự cải thiện của quá trình bệnh lý khởi phát trong gan trong giai đoạn tăng glucose máu. Cho chuột cống trắn uống lá dây thìa canh tán bột (500mg/chuột) trong 10 ngày có tác dụng dự phòng sự tăng glucose máu gây bởi việc tiem tĩnh mạch berylli nitrat ở chuột cống trắng và làm bình thường hoá glucose huyết trong thời gian ngắn hơn so với chuột đối chứng không điều trị. Dây thìa canh không có tác dụng hạ glucose huyết ở chuột cống trắng bình thường.

Hoạt tính hạ glucose huyết phụ thuộc vào liều.

Việc uống cao chiết là dây thìa canh (400mg/ngày) trong 18 -20 tháng cùng với trị liệu thường quy, có tác dụng tốt trên 22 bệnh nhân đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Đã nhận xét thấy sự giảm glucose huyết, giảm nhu cầu sử dụng thuốc thường quy. Có 5 bệnh nhân ngừng điều trị với thuốc thường quy và duy trì nội cân bằng glucose huyết chỉ với cao chiết dây thìa canh. Ngoài ra, nồng độ insulin huyết thanh tăng, gợi ý về tác dụng gây tiết insulin của cao.

Cho uống cao lá dây thìa canh (400mg/ngày) cho 27 bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc insulin được điều trị với insulin làm hạ glucose huyết, hemoglobin glycosyl hoá, protein glycosyl hoá huyết tương khi đói và nhu cầu về insulin. Ngoài ra, cao còn làm giảm nồng độ lipid huyết thanh tới gần mức bình thường Grover J.K. et al., 2002).

Hoạt chất conduritol A có thể có tác dụng dự phòng bệnh đục thể thuỷ tinh, là hậu quả của bệnh đái tháo đường, do ức chế enzym aldose reductase ở thể thuỷ tinh. GS 4, một cao chiết từ lá dây thìa canh, có tác dụng rất tốt kiểm soát chứng tăng glucose huyết ở bệnh nhân đái tháo đường thuộc cà hai típ 1 và 2 (Li W.L et al., 2004).

Cao chiết lá dây thìa canh (600mg/kg, trong 15 ngày) làm giảm nồng độ của một hoặc cả hai hormon tuyến giáp, triiodothyronin và thyroxin. Cao này cũng làm giảm nồng độ glucose huyết thanh, cho thấy hoạt tính giảm glucose máu củ cao có thể được trung gian qua sự ức chế chức năng tuyến giáp. Không nhận xét thấy sự tăng peroxy hoá lipid ở gan hoặc sự giảm hợt dộc của superoxyd dismutase hoặc catalase, chứng tỏ cao lá dây thìa canh với liều đã dùng không ảnh hưởng tới gan (Gholap S. et al., 2002).

Hoạt tính ức chế trên đáp ứng vị giác:

Lá dây thìa canh ngăn ngừa sự nhận thức vị ngọt ở tất cả các vùng ở miệng.

Hoạt tính hạ lipid huyết:

Cho động vật uống cao lá dây thìa canh trong 2 tuần có tác dụng dự phòng sự tăng triglycerid, cholesterol toàn phần và các phân đoạn lipoprotein tỷ trọng rất thấp và tỷ trọng thấp gây bởi chế độ ăn có nhiều mỡ, và làm tăng lipoprotein tỷ trọng cao trong máu một cách phụ thuộc vào liều, với sự cải thiện đồng thời về về chỉ số chống tạo vữa mạch ở chuột tăng lipid huyết. Hoạt tính chống tăng cholesterol huyết của cao có thể ảnh hưởng tốt trên chức năng tim vì tăng cholesterol huyết là một nguyên nhân quan trọng của bệnh mạch vành tim (Bishayee A et al., 1992).

Dự phòng sâu răng:

Acid gymnemic từ dây thìa canh dự phòng sự phân huỷ đường và sản sinh glycan nởi vi khuẩn Streptococcus mutans gây sự tạo cao răng và sâu răng. Acid gymnemic có thể dự phòng sâu răng khi cho thêm vào thức ăn, hoặc dùng lá dây thìa canh pha trà uống (Williamson E.M et al., 2002: 167 – 169; Lemnens R.H.M.J. et al., 2003: 228 – 236).

Hoạt tính bảo vệ gan:

Cao ethanol lá dây thìa canh đưa vào dạ dày chuột cống trắng với liều 300mg/kg có tác dụng dự phòng nhiễm độc gây tổn thương gan bởi carbon tetraclorid. Tác dụng này được chứng minh thông qua các thông số hình thái học, hoá sinh và chức năng (Rana A.C. et al., 1992).

Hoạt tính kháng khuẩn, kháng virus:

Cao cồn lá dây thìa canh có hoạt tính kháng khuẩn đói với Bacillus pumilis, B. subtilis, Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus(Satdive R.K. et al., 2003). Các acid gymnemic A và B từ Gymnema sylvestre có hoạt tính kháng virus cúm. Acid gymnemic A có hoạt tính mạnh nhất, acid gymnemic B có hoạt tính mức độ vừa (Hayaoashi K. et al., 1997; Williamson E.M. et al., 2002: 167 – 169).

Chống độc tính nọc rắn:

Kali gymnemat có tác dụng ức chế ATPase từ nọc rắn mang bành và rắn Vipera russelli. ATPase của nọc rắn được cho là có tác dụng gây sốc cho nạn nhân bị rắn cắn bởi sự thuỷ phân bất thình lình của adenosin triphosphat (ATP) và cần có Mg2+ để có hoạt tính này. Phân tích bằng chụp Rơnghen huỳnh quang cho thấy sự kết hợp của ATP và kali gymnemat với enzym ATPase của nọc rắn mang bành ở cùng các vị trí của enzym và như vậy xác minh kiểu cạnh tranh của tương tác ức chế (Selvanayagan Z.E. et al., 1994).

Chống béo phì:

Chế phẩm thảo dược OB – 200G chứa dây thìa canh, cỏ xước, gừng, tiêu lốt và hai dược liệu khác được dùng với liều mỗi ngày 4 viên trong 6 tháng cho 32 bệnh nhân béo phì. Kết quả cho thấy thuốc có hiệu quả làm giảm thể trọng ở tất cả bệnh nhân về mặt lâm sàng (Argawal J.K. et al., 2001).

Chống oxy hoá:

Dây thìa canh có tác dụng chống oxy hoá có thể so sánh được với a – to cophenol.

Giảm cơ trơn:

Cao nước dây thìa canh chứa acid gymnemic có tác dụng ức chế sự co cơ vòng ruột chuột cống trắng gây bởi nồng độ cao K+ một cách phụ thuộc vào liều, và sự co cơ tự nhiên cũng giảm hoặc bị ức chế hoàn toàn. Điều này có thể do sự tham gia của yếu tố cường phân cực từ oxyd nitric và nội mô.

Sự an toàn:

Acid gymnemic có vẻ không độc đối với người, nhưng bệnh nhân đái tháo đường dùng thuốc hạ đường huyết có thể cần phải giảm liều lượng thuốc nếu điều trị kết hợp với dây thìa canh. Liều LD50 của cao cồn 50% toàn cây (loại trừ rễ) tiêm trong mạng bụng cho chuột nhắt trắng là 375mg/kg thể trọng (Williamson E.M et al., 2002: 167 – 169). Nghiên cứu độc tính mạn tính cho thấy không có thay đổi bất thwongf nào ở động vật thí nghiệm (Chakraborty T., 1992).

Tính vị, công năng

Dây thìa canh có vị đắng, cay. Lá của cây, khi nhai, có tác dụng làm tê, trong vài giờ, vị giác đối với các chất ngọt và đắng. Có tác dụng mát, bổ, làm dễ tiêu và lợi tiểu (Sastr B.N. et al., 1956: 276 – 277; Kirtikar K. R. et al., 1998: 1625 – 1627)

Công dụng

Dây thìa canh được dùng làm trị đái tháo đường với liều uống hàng ngày là 4g lá khô (Võ Văn Chi, 1997; 396 – 397). Dây thìa canh được dùng điều trị đái tháo đường ở nhiều nước khác nhau trên thế giới.

Ở các nước Đông Nam Á, ngoài công dụng trị đái tháo đường, rễ và lá được dùng trị viêm khớp dạng thấp, bệnh gút, viêm mạch máu, phù, sốt, ho, trĩ, nhọt, mụn, lở, rắn cắn, thuốc làm dễ tiêu và lợi tiểu. Lá có khi được dùng làm rau ăn.

Ở Trung Quốc, tất cả các bộ phận của cây, đặc biệt là rễ, được dùng trị viêm khớp dạng thấp, bệnh gút, viêm mạch máu, phù, sốt, trĩ và rắn cắn (Lemnens R.M.H.J. et al., 2003: 228 – 236).

Ở Ấn Độ, lá của dây thìa canh được dùng trị đái tháo đường và một số chứng bệnh khác như khó tiêu, trĩ, táo bón, sốt rét, ho, viêm phế quản, hen. Dây thìa canh được dùng làm thuốc trợ tim, lợi tiểu, làm dễ tiêu, nhuận trành, gây tăng trương lực cơ tử cung, trị các bệnh đa tiết mật, giác mạc và thể kính ở bệnh nhân đái tháo đường.

Lá đắp trị vết thương và trộn với dầu thầu dầu đắp trị sưng hạch, gan to và lách to.

Rễ tán bột chữa rắn cắn.

Quả đắng và có tác dụng làm giảm trướng bụng, và được dùng trị bệnh phong, đái tháo đường, viêm phế quản, chữa loét, trị ngộ độc và diệt giun.

Toàn cây dùng trị lỵ.

Trong thú y, dây thìa canh được dùng cho gia súc ăn để lợi sữa.

Ở Đông Phi, rễ tán bột và sắc lấy nước uống để điều trị động kinh, rắn cắn và dùng ngoài trị nhọt (Kirtikar K.R. et al., 1998: 1625 – 1627; Williamson E.M. et al., 2003: 228 – 236).

Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam

  • VIDEO KIẾN THỨC VỀ BỆNH