Cẩm nang biến chứng tiểu đường – Kỳ II. Tiểu đường và thận

Thứ Bảy 06/08/2016.

Tiểu đường là nguyên nhân phổ biến gây suy thận giai đoạn cuối cần phải lọc máu chu kỳ. Bệnh thận do tiểu đường được coi là biến chứng nguy hiểm và điều trị tốn kém nhất. Vậy người bệnh tiểu đường nên hiểu và có biện pháp phòng tránh biến chứng nguy hại này như thế nào? Cùng tìm hiểu kỹ hơn về biến chứng này qua nội dung bài viết.

13937992_1760161060897582_6225862401815027246_o (1)

Tiểu đường gây ra biến chứng ở thận như thế nào?
Ở bệnh nhân tiểu đường, do đường huyết tăng cao dẫn đến lượng máu đến thận quá lớn, thận phải làm việc (lọc) quá mức. Sau thời gian dài phải làm việc trong tình trạng quá mức này hệ thống lọc bắt đầu bị phá hủy, các lỗ lọc trở nên to hơn, dẫn đến chức năng lọc của thận suy giảm. Khi thận mất hoàn toàn chức năng, các chất thải độc hại sẽ không được thải ra ngoài mà lưu lại trong máu, dẫn đến tử vong. Tại Việt Nam, bệnh thận do tiểu đường cũng là nguyên nhân chính dẫn đến suy thận giai đoạn cuối và lọc thận.

Các triệu chứng của biến chứng thận do tiểu đường
Trong giai đoạn đầu, các triệu chứng không có gì đặc biệt. Chỉ khi chức năng của thận suy giảm nhiều các triệu chứng mới xuất hiện, có thể là:
– Nước tiểu bất thường: có bong bóng hoặc bọt, nước tiểu nhiều hoặc ít hơn bình thường, có máu trong nước tiểu (thường chỉ nhìn thấy qua kính hiển vi).
– Phù: thường là phù toàn thân, từ mí mắt xuống bàn chân, da trắng nhạt
– Thiếu máu: người bệnh thường xuyên mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, mất tập trung, có cảm giác ớn lạnh
– Ngứa ở da: do sự tích tụ nồng độ cao của các chất thải trong máu
– Mất cảm giác ăn ngon miệng, vị kim loại trong miệng, hơi thở có mùi amoniac
– Buồn nôn và nôn: tích tụ quá nhiều các chất thải trong máu có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn
– Khó thở: do ứ dịch ở phổi hoặc thiếu máu (thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy)

Làm thế nào để ngăn ngừa và điều trị biến chứng thận do tiểu đường?
Bệnh nhân tiểu đường hoàn toàn có thể phòng ngừa biến chứng thận bằng cách kiểm soát tốt đường huyết và một số yếu tố nguy cơ như:
– Kiểm soát tốt đường huyết: luôn giữ đường huyết ổn định trong giới hạn cho phép (< 7mmol/l lúc đói và< 10mmol/l sau ăn 2h)
– Kiểm soát tốt huyết áp (HA): ≤ 120/80mmHg. Bốn cách đơn giản để hạ HA cần thực hiện đồng thời là: giảm cân (nếu có thừa cân); ăn nhạt, bỏ rượu, thuốc lá cùng với tập thể dục đều đặn. Nếu các biện pháp này không có hiệu quả thì cần dùng các thuốc hạ HA sớm.
– Chế độ ăn: Ăn giảm chất đạm (0,6 – 0,8g protein/kg thể trọng/ngày) để thận phải ít làm việc hơn và ít mất protein qua thận hơn.Tuy nhiên với người bị bệnh thận do tiểu đường, chế độ ăn giới hạn protein phải rất thận trọng và cần có sự đánh giá của chuyên gia dinh dưỡng.

Ngoài ra,để kiểm tra và phát hiện sớm các tổn thương ở thận trước khi xuất hiện các triệu chứng, các bác sĩ sẽ cho tìm albumin trong nước tiểu. Tìm albumin trong nước tiểu sẽ giúp can thiệp sớm để phòng ngừa bệnh thận nặng thêm. Ở bệnh nhân tiểu đường túyp 1 cần thử albumin nước tiểu khoảng 3-5 năm sau khi chẩn đoán bệnh. Ở bệnh nhân tiểu đường túyp 2, cần tìm albumin ngay lúc mới chẩn đoán. Nếu đã có biến chứng trên thận thì cần phải có kế hoạch điều trị tích cực cũng như chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý để ngăn ngừa biến chứng nặng lên và hạn chế nguy cơ suy thận nặng phải điều trị bằng cách lọc máu hoặc ghép thận.

  • VIDEO KIẾN THỨC VỀ BỆNH