Bệnh võng mạc Tiểu đường

Thứ Bảy 17/10/2015.

images

Bệnh võng mạc tiểu đường! Mờ mắt, giao động tầm nhìn, nhìn đêm kém, mất tầm nhìn, khiếm mầu sắc, ảnh hưởng đến cả hai mắt.

1. Định nghĩa

Bệnh võng mạc tiểu đường là một biến chứng của bệnh tiểu đường, kết quả từ thiệt hại cho các mạch máu của mô nhạy sáng ở phía sau của mắt (võng mạc). Lúc đầu, bệnh võng mạc tiểu đường có thể gây ra không có triệu chứng hoặc chỉ có vấn đề tầm nhìn nhẹ. Cuối cùng, tuy nhiên, bệnh võng mạc tiểu đường có thể dẫn đến mù loà.

Bệnh võng mạc tiểu đường có thể phát triển trong bất cứ ai có bệnh tiểu đường tuyp 1 hay type 2. Bị tiểu đường và kiểm soát lượng đường máu ít càng có nhiều khả năng có phát triển bệnh võng mạc tiểu đường.

Để bảo vệ tầm nhìn, hãy nghiêm túc công tác phòng chống. Bắt đầu bằng cách cẩn thận kiểm soát lượng đường trong máu và lập lịch trình khám mắt hàng năm.

2. Các triệu chứng

Có thể có bệnh võng mạc tiểu đường và không biết điều đó. Trong thực tế, nó thường có các triệu chứng trong giai đoạn đầu của bệnh võng mạc tiểu đường.

Như tình trạng tiến triển, các triệu chứng bệnh võng mạc tiểu đường có thể bao gồm:

· Điểm nổi hoặc dây tối trong tầm nhìn (floaters).· Mờ mắt.

· Dao động tầm nhìn.

· Tối hoặc trống rỗng các khu vực trong tầm nhìn.

· Tầm nhìn đêm kém.

· Tầm nhìn khiếm màu sắc.

· Mất tầm nhìn.

Bệnh võng mạc tiểu đường thường ảnh hưởng tới cả hai mắt.

Quản lý cẩn thận của bệnh tiểu đường là cách tốt nhất để ngăn ngừa mất thị lực. Nếu bị tiểu đường, gặp bác sĩ mắt cho một kỳ kiểm tra mắt hàng năm, ngay cả khi tầm nhìn có vẻ tốt đẹp, bởi vì điều quan trọng để phát hiện bệnh võng mạc tiểu đường trong giai đoạn đầu. Nếu có thai, bác sĩ mắt có thể khuyên nên khám mắt thêm trong suốt thời kỳ mang thai, bởi vì mang thai đôi khi có thể xấu đi bệnh võng mạc tiểu đường.

Liên lạc với bác sĩ mắt ngay lập tức nếu trải nghiệm thay đổi tầm nhìn bất ngờ hay tầm nhìn trở nên mờ, chắp vá hoặc mờ.

3. Nguyên nhân

Quá nhiều đường trong máu có thể làm hỏng những mạch máu nhỏ (mao mạch) nuôi dưỡng võng mạc. Điều này có thể dẫn đến bệnh võng mạc tiểu đường và mất thị lực. Lượng đường trong máu cao cũng có thể ảnh hưởng đến ống kính của mắt. Với mức độ đường cao hơn trong thời gian dài, các ống kính có thể sưng lên, một nguyên nhân gây mờ mắt.

Bệnh võng mạc tiểu đường thường được phân loại là sớm (nonproliferative) hoặc tăng sinh (proliferative).

Bệnh võng mạc tiểu đường sớm. Bệnh võng mạc tiểu đường Nonproliferative (NPDR) là loại phổ biến nhất của bệnh võng mạc tiểu đường. Nó có thể được mô tả là nhẹ, trung bình hoặc nặng. Khi đã NPDR, các bức thành của các mạch máu ở võng mạc suy yếu. Chỗ phình ra tuy nhỏ nhô ra từ các thành mạch, đôi khi bị rò rỉ hoặc chảy chất lỏng và máu vào võng mạc. Các chỗ phình ra được gọi là microaneurysms, là một điều kiện tiến triển các mạch nhỏ hơn có thể làm lớn tĩnh mạch võng mạc và bắt đầu giãn và trở nên có đường kính bất thường. Sợi thần kinh trong võng mạc có thể bắt đầu sưng lên. Đôi khi phần trung tâm của võng mạc (macula) bắt đầu sưng lên, được gọi là phù nề điểm vàng.

Bệnh võng mạc tiểu đường tăng sinh (proliferative). Tăng nhanh bệnh võng mạc tiểu đường là loại nặng nhất của bệnh võng mạc tiểu đường. Khi đã PDR, các mạch máu bất thường phát triển trong võng mạc. Đôi khi các mạch máu mới phát triển hoặc bị rò rỉ chất jelly rõ ràng, trung tâm của mắt có chất trong như pha lê. Cuối cùng, mô sẹo kích thích bởi sự tăng trưởng của các mạch máu mới. Nếu các mạch máu mới can thiệp với dòng chảy bình thường của chất lỏng ra ngoài của mắt, áp lực có thể xây dựng trong nhãn cầu, gây tăng nhãn áp. Điều này có thể thiệt hại dây thần kinh mang hình ảnh từ mắt đến bộ não.

4. Yếu tố nguy cơ

Bệnh võng mạc tiểu đường có thể xảy ra cho bất cứ ai có bệnh tiểu đường. Nguy cơ là lớn hơn nếu:

· Có kiểm soát nghèo nàn của lượng đường trong máu.

· Bị huyết áp cao.

· Có cholesterol cao.

· Đang mang thai.

· Là người da đen hay gốc Tây Ban Nha.

5. Các biến chứng

Bệnh võng mạc tiểu đường liên quan đến sự tăng trưởng bất thường của mạch máu trong võng mạc. Các biến chứng có thể dẫn đến các vấn đề tầm nhìn nghiêm trọng:

Có xuất huyết. Các mạch máu mới có thể chảy máu vào trung tâm của mắt. Nếu số chảy máu là nhỏ, có thể thấy chỉ một vài điểm tối hoặc floaters. Trong nhiều trường hợp nặng, máu có thể vào khoang và hoàn toàn chặn tầm nhìn. Xuất huyết chính nó thường không gây mất thị lực vĩnh viễn, mà thường trong vòng một vài tuần hay vài tháng. Trừ khi võng mạc bị hư hỏng, tầm nhìn có thể quay lại rõ ràng trước đó.

Võng mạc tách rời. Các mạch máu bất thường liên kết với bệnh võng mạc tiểu đường kích thích sự tăng trưởng của mô sẹo, có thể kéo võng mạc đi từ phía sau của mắt. Điều này có thể gây ra những điểm nổi trong tầm nhìn, nhấp nháy của ánh sáng hoặc mất thị lực nghiêm trọng.

Bệnh tăng nhãn áp. Mạch máu mới có thể phát triển ở phần phía trước của mắt và cản trở dòng chảy bình thường của chất lỏng ra mắt, gây áp lực trong mắt (tăng nhãn áp). Áp lực này có thể thiệt hại dây thần kinh mang hình ảnh từ mắt để bộ não.

Mù. Cuối cùng, bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh tăng nhãn áp hoặc cả hai có thể dẫn đến mất thị lực hoàn thành.

6. Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bệnh võng mạc tiểu đường tốt nhất được chẩn đoán với một bài kiểm tra khi mắt giãn ra. Đối với kiểm tra này, bác sĩ mắt sẽ mở rộng trong vài giờ. Điều này cho phép bác sĩ có được một cái nhìn tốt hơn trong mắt..

Trong suốt kỳ kiểm tra, bác sĩ mắt sẽ xem xét cho

· Có hay không có một đục thủy tinh thể.

· Bất thường mạch máu.

· Sưng, máu hoặc chất béo trong võng mạc.

· Tăng trưởng của các mạch máu mới và các mô sẹo.

· Chảy máu trong vào trung tâm của mắt.

· Võng mạc đội.

· Bất thường ở thần kinh thị giác.

Ngoài ra, bác sĩ mắt có thể

· Kiểm tra tầm nhìn.

· Đo áp lực mắt để kiểm tra bệnh tăng nhãn áp.

· Fluorescein angiography. Là một phần của kiểm tra mắt, bác sĩ có thể làm một thử nghiệm nhiếp ảnh võng mạc gọi là fluorescein angiography. Đầu tiên, bác sĩ sẽ làm giãn và chụp ảnh trong mắt. Sau đó bác sĩ sẽ tiêm thuốc nhuộm đặc biệt vào cánh tay. Hình ảnh chi tiết sẽ được lấy. Bác sĩ có thể sử dụng hình ảnh để xác định các mạch máu được đóng, bị hỏng hay rò rỉ chất lỏng.

· Chụp cắt lớp gắn kết quang học. Bác sĩ mắt cũng có thể yêu cầu một sự gắn kết quang học chụp cắt lớp. Thử nghiệm hình ảnh này cung cấp hình ảnh cắt ngang của võng mạc cho thấy độ dày của võng mạc, giúp xác định xem liệu chất lỏng đã bị rò rỉ vào mô võng mạc. Sau đó, có thể được dùng để theo dõi điều trị.

  • VIDEO KIẾN THỨC VỀ BỆNH